hotline

TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỀ NỌC BỌ CẠP XANH CUBA

1. NGHIÊN CỨU TIỀN LÂM SÀNG VỀ THÀNH PHẦN, ĐỘC TÍNH CỦA NỌC BỌ CẠP XANH CUBA (RHOPALURUS JUNCEUS)

(Nguồn: Được công bố tại Hội nghị Khoa học quốc tế - Labiofam Congresso, Havana tháng 10/2011, TS Alexis Diaz Garcia, Phòng nghiên cứu – Trung tâm thí nghiệm chế phẩm hóa sinh Labiofam cùng các cộng sự: TS.Luis Morier Diaz, TS.Hermis Rodriguez Sanchez, TS.Yamira Caballero Lorenzo - Phòng sinh học phân tử - Trung tâm nuôi cấy tế bào - Viện nghiên cứu dược phẩm nhiệt đới Pedro Kouri, Cộng hòa Cuba)

Ở Cuba, nọc độc của bọ cạp Rhopalurus junceus, một loài chân đốt đặc hữu của quốc đảo đã được sử dụng cho các mục đích điều trị kể từ đầu thế kỷ XIX,  cái gọi là "tinh dầu của bọ cạp" được sử dụng để làm giảm tình trạng bí tiểu. Tuy nhiên, phải đến đầu những năm 80 trong thế kỷ XX ở Guantanamo, qua các thực nghiệm nghiên cứu, người ta mới phát hiện ra tiềm năng của nọc độc bọ cạp xanh như một tác nhân chống ung thư.

Vì thế, một nghiên cứu tiền lâm sàng với nọc bọ cạp xanh Rhopalurus junceus được thực hiện kết hợp bởi một nhóm các nhà khoa học của Phòng nghiên cứu – Trung tâm thí nghiệm chế phẩm hóa sinh Labiofam, Cộng hòa Cuba và Phòng sinh học phân tử - Trung tâm nuôi cấy tế bào - Viện nghiên cứu dược phẩm nhiệt đới Pedro Kouri, Cộng hòa Cuba gồm : TS. Alexis Diaz Garcia, TS.Luis Morier Diaz, TS.Hermis Rodriguez Sanchez, TS.Yamira Caballero Lorenzo.

Nguyên liệu nghiên cứu

Bọ cạp: Những con bò cạp giống Rhopalurus junceus được sử dụng là những con bọ cạp trưởng thành, giữ ở nhiệt độ phòng và được nuôi bằng côn trùng, chủ yếu là dế và gián (loài gián Periplaneta Americana) cung cấp mỗi tuần một lần.

Nọc: nọc độc  thu được bằng cách kích thích điện đuôi chích của bọ cạp, trong khoảng thời gian ít nhất là 21 ngày mà không cần phải chiết nọc độc. Nọc độc thu được đem pha loãng trong nước cất, ly tâm với tốc độ 15.000 rpm trong 20 phút để loại bỏ các thành phần như chất nhầy và các chất thải của tế bào. Cuối cùng, phần chất nổi lên được lưu trữ trong các lọ 1,5 ml và bảo quản ở -20°C cho đến khi sử dụng.

Dòng tế bào nghiên cứu và điều kiện nuôi cấy
- Hela (ATCC CCL-2, ung thư cổ tử cung của người),
- Hep-2 (ATCC CCL-23: ung thư thanh quản của người),
- NCI H292 (ATCC CRL-1848: ung thư phổi người)
- Dòng nhị bội MRC-5 (ATCC CCL-171, nguyên bào sợi phổi của người)
Các dòng tế bào Hela, Hep-2 và MRC-5 được nuôi trong bình nuôi cấy trong môi trường thiết yếu tối thiểu (MEM, Sigma), bổ sung 2 mM glutamin và các axit amin không thiết yếu và 10% huyết thanh bào thai bò (SFB). Dòng NCL-H292 được nuôi trong RPMI-1640 (Sigma) bổ sung 2 mM glutamine và 10% SFB. Mỗi dòng được ủ trong không khí ẩm ở 37°C ở mức 5% CO2 cho đến khi hình thành lớp đơn. Mỗi dòng tế bào được tách ra bằng cách xử lý với 0,25%  dung dịch trypsin và được chuẩn bị ở nồng độ 2.105  tế bào / mL.

Phương thức nghiên cứu
Phương pháp phân tách nọc: Bằng sắc kí hóa lỏng áp suất thấp (CLBP), nọc độc được hòa tan trong dung dịch ammonium axetat (NH Ac) 0,1 M bằng máy lắc và ly tâm với tốc độ 15.000 rpm trong 20 phút. Phần nổi trên mặt đã được tiêm vào một cột sắc kí chứa chất gel Superdex 75 HR 10/30, kích thước 10 x 300 mm thực hiện trên một hệ thống AKTA FPLC (Amersham Pharmacia Biotech).

Xác định khối lượng phân tử tương đối: Để xác định khối lượng phân tử tương đối, một bộ kit thương mại (của hãng Amersham Pharmacia Biotech) có chứa: ribonuclease A (13,7 kDa), chymotrypsinogen (25 kDa), ovalbumin (43 kDa), albumin (67 kDa) và dextran xanh 2000 được sử dụng và chạy trong điều kiện tương tự của độc tố.

Điện di gel Polyacrylamide:  Các mẫu nọc độc và các thành phần được phân tích bằng phương pháp điện di trong những điều kiện không giảm, trong một gel phân tách 16% và gel cô 4% và được tiến hành trong một buồng điện di (Biorad, mini PROTEANR II).
Phương thức khác: Những tác dụng đạt được của các thành phần và nọc trên các dòng tế bào được xác định thông qua phép thử màu so màu sử dụng Bromua, Nồng độ trung bình các thành phần gây đọc tế bào trong bọ cạp được tính toán bằng phương pháp hồi quy tuyến tính.

Bằng các phương pháp phân tích trên, nghiên cứu tiền lâm sàng nọc bọ cạp xanh Rhopalurus junceus bước đầu chỉ ra: Kết quả nghiên cứu tiền lâm sàng.

Thứ nhất, thành phần của nọc bọ cạp xanh Cuba
- Trong điều kiện tự nhiên, nọc độc của bọ cạp, là một chất lỏng trắng đục, màu sữa, với độ pH 7.12, chứa các muối vô cơ, mucopolysaccharide, enzyme và một loạt các protein bao gồm các phân tử peptit có khối lượng phân tử thấp hơn 8 kDa

Thứ hai, độc tính gây độc lên tế bào ung thư của nọc bọ cạp xanh Cuba trên các dòng tế bào ung thư
- Độc tính gây độc lên tế bào ung thư của nọc bọ cạp xanh Cuba
Bằng phương pháp Mosmann, dựa vào kết quả nghiên cứu cho thấy, độc tính gây độc của nọc bọ cạp xanh lên tế bào ung thư được thể hiện bằng mức CC50, là nồng độ các chất độc gây ra sự sụt giảm 50% số lượng các tế bào sống (hấp thu MTT) so với nhóm đối chứng không được điều trị.
Nọc bọ cạp xanh ảnh hưởng đáng kể tới sự tăng trưởng của tế bào ung thư so với tế bào bình thường. Các phần thu được được chia thành 4 nhóm và được đánh giá trong các dòng tế bào Hela, NCI-H292 và MRC-S. FI hóa ra là độc hại đối với MRC-S trong khi F-II cho thấy mức độ nhạy cảm tương tự cho ba dòng tế bào. F-III cho thấy ức chế đáng kể sự tăng trưởng tế bào khối u (p <0,05) so với các tế bào bình thường, tương tự như những gì quan sát được với nọc độc đầy đủ.

- Cơ chế gây hoại tử tế bào theo chu trình:
+ Các phân tích chỉ ra, ái lực cao của nọc độc của bọ cạp xanh tăng độc tính đối với các tế bào ung thư. Quá trình gây chết tế bào theo chu trình được phát hiện trong các dòng tế bào khối u. Sự xuất hiện của việc suy thoái DNA, sau 24 giờ ủ, trong các dòng tế bào Hela chỉ ra đây là một trong nhiều khả năng để phát triển quá trình gây chết tế bào. Nồng độ cao nhất của nọc độc gây ra sự gia tăng về khối lượng tế bào và kết đặc nhân tế bào cao có thể chỉ ra sự hiện diện của hoại tử.

+ Quá trình gây chết tế bào theo chu trình như một cơ chế gây chết tế bào có xu hướng tăng khi thời gian ủ với các chất độc tăng lên. Điều này cho thấy thời gian ủ càng lâu thì sự kiện này làm cho càng nhiều tế bào chết. Sự thay đổi hình thái xảy ra trong dòng tế bào ung thư Hela, do độc tính của nọc độc; Nồng độ cao nhất gây ra tổng số phá hủy các tế bào đơn lớp.

2. NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG CỦA NỌC BỌ CẠP XANH (RHOPALURUS JUNCEUS)

Thứ nhất, nọc bọ cạp xanh Cuba an toàn
Các thử nghiệm tiền lâm sàng chỉ ra dung dịch nọc bọ cạp xanh là an toàn và dung nạp tốt. Nồng độ cao của dung dịch nọc bọ cạp xanh đã được tiêm cho những con chuột  thí nghiệm tiền lâm sàng, nhiều lần trong một thời gian dài. Ngay cả với liều cao của dung dịch nọc bọ cạp xanh nhưng không ghi nhận có tác dụng phụ tiêu cực nào qua quan sát.

Trong các thử nghiệm tiền lâm sàng, các nhà khoa học ghi nhận các dấu hiệu lâm sàng dưới đây để chỉ ra công dụng của dung dịch nọc bọ cạp xanh:
- Hoạt động vận động bình thường
- Phản xạ khỏe mạnh
- Ứng phó với cơn đau
- Sự chảy nước miếng
- An thần / giấc ngủ khỏe mạnh
- Sự phản ứng
- Điều Kiện / Sự biểu hiện của da
- Điều Kiện / Sự biểu hiện của màng nhầy
- Điều Kiện / Sự cảm thụ của mắt
- Điều Kiện / Sức khỏe nội tạng
Trong quá trình nghiên cứu này, tất cả các loài động vật thí nghiệm đều khỏe mạnh. Chúng duy trì sự cân nặng và mức độ vận động tốt. Qua kiểm tra thì những động vật được tham gia nghiên cứu không có bất kỳ sự tổn thương nào tới các cơ quan nội tạng và tất cả chức năng cơ thể của chúng đều hoạt động bình thường.
Vậy, bằng những nghiên cứu tiền lâm sàng của nọc bọ cạp xanh có thể khẳng định dung dịch nọc bọ cạp xanh không có tác dụng phụ độc hại.

Thứ hai, nọc bọ cạp xanh giúp giảm đau:
- Dung dịch nọc bọ cạp xanh đã được nghiên cứu trong một thử nghiệm ức chế đau. Trong nghiên cứu này, một vài nhóm chuột được chỉ định sử dụng với mức độ khác nhau của dung dịch nọc bọ cạp xanh. Một nhóm đối chứng đã được chỉ định sử dụng theo hướng lâm sàng giảm đau bằng thuốc giảm đau có tên gọi là Paracetamol. Các nhóm kiểm soát đối chứng chưa dùng biện pháp nào - Chúng đã không được sử dụng dung dịch nọc bọ cạp xanh cũng như không được chỉ định thuốc giảm đau nào.

So với nhóm đối chứng mà không được chỉ định dùng thuốc giảm đau, qua lâm sàng cho thấy những cá thể tham gia nhóm được sử dụng thuốc Paracetamol đã giảm 47% đau đớn. Tuy nhiên, những cá thể được chỉ định sử dụng nồng độ cao dung dịch nọc bọ cạp xanh đã giảm tới 55% đau đớn so với những cá thể nhóm không sử dụng bất kỳ thuốc giảm đau nào. Kết quả qua nghiên cứu dung dịch nọc bọ cạp xanh đã cho thấy giảm 55% mức độ đau.

Thứ ba, nọc bọ cạp xanh giúp giảm viêm
- Dung dịch nọc bọ cạp xanh đã được nghiên cứu trong một thử nghiệm của ức chế viêm nhiễm. Trong nghiên cứu, các nhà khoa học đã tạo ra ba nhóm chuột. Một nhóm được sử dụng một thuốc steroid chống viêm có tên gọi là Dexamet, thường dùng cho bệnh nhân ung thư sau khi hóa trị. Một nhóm đối chứng không được chỉ định sử dụng gì cả. Nhóm thứ ba đã được chỉ định dùng dung dịch nọc bọ cạp xanh qua đường miệng.

- Các nhà nghiên cứu đã tạo ra tình trạng viêm một cách giả tạo như nhau cho cả ba nhóm và sau đó đã quan sát. Mức độ viêm đã được ghi lại bằng cách đánh giá thể trạng trước và sau khi các nhóm cá thể thí nghiệm bị gây viêm.

- So với các nhóm kiểm soát không được dùng gì, những cá thể được chỉ định dùng dung dịch nọc bọ cạp xanh ghi nhận mức độ giảm viêm là 38%.

Từ thông tin trên, có thể kết luận rằng dung dịch nọc bọ cạp xanh giúp giảm đáng kể tình trạng viêm.

Các thông tin bổ sung từ các thử nghiệm lâm sàng sau đó đã chứng minh mạnh mẽ rằng ở liều lượng cao hơn được dùng trong các thử nghiệm tiền lâm sàng, hoạt tính chống viêm của dung dịch bọ cạp xanh đã được củng cố mạnh mẽ.

Thứ tư, nọc bọ cạp xanh có khả năng kháng tế bào Ung thư
Dung dịch nọc bọ cạp xanh ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư trong ống nghiệm. Đối với tất cả các loại ung thư được sử dụng trong nghiên cứu, số lượng các tế bào ung thư đã giảm sau khi được tiếp xúc với nọc bọ cạp xanh. Một nhóm tế bào ung thư đã giảm 60% chỉ trong một tuần sử dụng.

 

Nọc bọ cạp xanh kháng tế bào ung thư

Thứ năm, nọc bọ cạp xanh chống lại tác động của bệnh ung thư

Nghiên cứu đã chọn ra năm nhóm có khối u ác tính. Một nhóm (nhóm chứng) đã không được chỉ đinh bất kỳ hình thức điều trị nào. Bốn nhóm khác đã được đưa ra cấp độ sử dụng khác nhau  của nọc bọ cạp xanh.

Sau vài tuần, kích thước của các khối u được các nhà nghiên cứu đánh giá. Kết quả cho thấy nhóm chỉ định dùng các liều cao của nọc bọ cạp xanh giảm 45% kích thước khối u được theo dõi.
Từ dữ liệu này, có thể kết luận rằng nọc bọ cạp xanh ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư trong cơ thể sống.

* Chú thích:

Nghiên cứu tiền lâm sàng: Các nhà nghiên cứu thử nghiệm thuốc nghiên cứu trên các tế bào trong phòng thí nghiệm hoặc trên động vật. Họ làm như vậy để tìm hiểu xem thuốc nghiên cứu có thể tác dụng như thế nào trong cơ thể người.

Thử nghiệm lâm sàng: Các nhà nghiên cứu thử nghiệm tính an toàn của thuốc nghiên cứu, tìm tác dụng phụ, tìm hiểu lượng (liều) thích hợp của thuốc đối với con người và xác định hiệu lực của thuốc đó. Thử nghiệm lâm sàng cần phải có người tham gia nghiên cứu (còn gọi là "tình nguyện viên nghiên cứu" và "đối tượng nghiên cứu"). Trong thử nghiệm lâm sàng, các nhà nghiên cứu thường so sánh thuốc nghiên cứu với một thuốc đã được phê duyệt để điều trị bệnh hoặc tình trạng mà họ đang nghiên cứu. Họ cũng có thể so sánh thuốc đó với giả dược. Giả dược là một dạng bào chế hoặc phương pháp điều trị trông giống như thuốc đang được thử nghiệm nhưng không chứa thuốc nghiên cứu thực tế.

XEM THÊM

TÀI LIỆU KHOA HỌC (Được công bố bởi Trung tâm thử nghiệm lâm sàng - Tập đoàn Labiofam năm 2013)

Lý do người ung thư nên dùng nọc bọ cạp xanh